VÕ NHẬT TRƯỜNG


Tôi : Võ Nhật Trường
Sinh ngày: 01/05/1982
Quê quán: Tam Quan Bắc -Hoài Nhơn –Bình Định
Chuyên môn: Tin học
Sở thích: Học tập, vui chơi và giao lưu cùng bạn bè !
Email liên hệ:
Sunrise.tqb@gmail.com
Sunrise.tqb@hotmail.com
Sunrise1582@yahoo.com.vn
Số TK Aribank: 4307215007539
Điện thoại: 0985297377
Điện thoại: 01666897129
Điện thoại: 0965661247
Số CMT:211725206

Tài nguyên dạy học

Ảnh ngẫu nhiên

Bieu_dien_hay_03.flv Cong_nghe_hay_04.flv Cong_nghe_hay_03.flv Cong_nghe_hay_02.flv Cong_nghe_hay_01.flv Bieu_dien_hay_02.flv Bieu_dien_hay_01.flv Nau_an_02.flv Nau_an_01.flv Ntc2018_0141.JPG Nhung_sang_che_tuyet_voi_03.flv Gia_dinh_hai_nao.flv U23VN_vao_chung_ket_AFC_2018.flv Song_dep_23.flv Song_dep_22.flv Song_dep_21.flv Song_dep_20.flv Song_dep_19.flv Song_dep_18.flv

Cảnh đẹp Việt Nam

Cảm xúc






Sắp xếp dữ liệu

Điều tra ý kiến

Đánh giá của bạn về trang này?
Tốt
Khá
Trung bình
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Võ Nhật Trường


    >

    Dân tộc X'tiêng

    6796980 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Xa Điêng Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số: 50.000 người Cư trú: Cư trú tập trung tại 4 huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé và một phần sinh sống ởĐồng Nai và Tây Ninh Đặc điểm kinh tế: Nhóm Bù Đéc ở vùng thấp, biết làm ruộng nước và dùng trâu, bò kéo cày từ khá lâu. Nhóm Bù Lơ ở vùng cao, làm rẫy là chủ yếu, sống gần gũi với người M'Nông và người Mạ. Tổ chức cộng...

    Dân tộc Xinh mun

    7761293 Lễ hội Mương A Ma của người Xinh Mun
    Người Xinh Mun là một trong 54 dân tộc ở Việt Nam, địa bàn cư trú của họ là vùng biên giới Việt Lào và nhất là địa bàn tỉnh Sơn La. Vào những ngày mùa, dịp cuối năm sau khi thu hoạch xong họ thường cử hành nghi lễ cúng thần linh đã ban cho mùa màng bội thu. Nghi lễ ấy theo tiếng Xinh Mun là Mương A Ma và thường tổ chức từ tháng 12 đến tháng 2 âm lịch. Lễ hội Mương A Ma không...

    Dân tộc Thổ

    6796992 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Ly Hà, Tày Pọng, Con Kha, Xá Lá Vàng Nhóm ngôn ngữ: Việt - Mường Dân số: 51.000 người Cư trú: Sống ở miền tây tỉnh Nghệ An Đặc điểm kinh tế: Người Thổ làm rẫy trên cả đất dốc, cả đất bằng, trồng lúa và gai là chính. Trong canh tác lúa, ngoài cách thức chọc lỗ tra hạt, đồng bào còn gieo vãi và dùng cày, bừa để lấp đất sau khi gieo. Cây...

    Dân tộc Si la

    6796996 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Cú Dé Xử, Khà Pé Nhóm ngôn ngữ: Tạng - Miến Dân số: 600 người (ước tính năm 2003) Cư trú: Sống ở ba bản Seo Hay, Sì Thâu Chải, Nậm Xin thuộc huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu Đặc điểm kinh tế: Người Si La sống bằng nghề trồng lúa nương, ngô. Từ mấy chục năm nay đồng bào làm thêm ruộng nước. Tuy sản xuất đóng vai trò chính nhưng săn bắn và hái lượm vẫn có ý nghĩa đối với đời...

    Dân tộc Sán dìu

    6797006 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Sán Déo, Trại, Trại Đất, Mán quần cộc, Mán Váy xẻ... Tên tự gọi: San Déo Nhín (Sơn Dao Nhân). Nhóm ngôn ngữ: Người Sán Dìu nói thổ ngữ Hán Quảng Ðông (ngữ hệ Hán - Tạng). Dân số: 95.000 người (ước tính năm 2003) Lịch sử: Người Sán Dìu di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm nay. Cư trú: Sống ở miền Trung du các tỉnhQuảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Kạn, Thái...

    Dân tộc Sán chay

    6797013 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Cao Lan, Sán Chỉ, Mán Cao Lan, Hờn Bận, Chùng, Trại... Tên tự gọi: Sán Chay Tên gọi khác: Hờn Bán, Dân số: 114.012 người. Nhóm ngôn ngữ: Tày - Thái Dân số: 114.000 người (ước tính năm 2003) Cư trú: Sống tập trung ở Tuyên Quang,Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang và rải rác ở các tỉnh: Quảng Ninh,Yên Bái, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc Đặc điểm kinh tế: Là cư dân nông nghiệp, làm ruộng nước thành thạo nhưng nương...

    Dân tộc Rơ măm

    6797018 Giới thiệu
    Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số: chưa đến 300 người Cư trú : Sống ở làng Le, xã Mo Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum Đặc điểm kinh tế: Người Rơ Măm sinh sống bằng nghề làm rẫy, lúa nếp là lương thực chủ yếu. Khi gieo trồng, đàn ông cầm hai gậy nhọn chọc lỗ, đàn bà theo sau bỏ hạt giống và lấp đất, săn bắt và hái lượm vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Trong số các nghề...

    Dân tộc Raglay

    6797021 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Ra Glây, Hai, Noana, La Vang Nhóm ngôn ngữ: Malayô - Pôlinêxia Dân số: 70.000 người (ước tính năm 2003) Cư trú: Sống chủ yếu ở phía Namtỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận Đặc điểm kinh tế: Trước đây đồng bào sống du canh bằng nương rẫy. Trên rẫy thường trồng lúa ngô... Hiện nay đồng bào làm cả ruộng nước. Săn bắn, hái lượm và các nghề thủ công (chủ yếu là nghề rèn và đan lát) giữ vai trò quan trọng trong...

    Dân tộc Pà thẻn

    6797027 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Pá Hưng, Tống Nhóm ngôn ngữ: Mèo - Dao Dân số: 3.700 người (ước tính năm 2003) Cư trú: Tập trung ở một số xã của tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang Đặc điểm kinh tế: Người Pà Thẻn sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy. Lúa, ngô là cây lương thực chính. Tổ chức cộng đồng: Các bản của người Pà Thẻn thường tập trung ven suối, thung Lũng hoặc triền núi thấp. Có làng đông tới 30-40 nóc nhà. Hôn nhân...

    Dân tộc Pu Péo

    6797033 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Ka Beo, Pen ti lô lô Nhóm ngôn ngữ: Ka đai Dân số: 400 người (ước tính năm 2003) Cư trú: Sống tập trung ở vùng biên giới Việt - Trung thuộc các huyện Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc tỉnhHà Giang Đặc điểm kinh tế: Người Pu Péo chủ yếu sống bằng nghề làm nương và ruộng bậc thang, trồng ngô, lúa, mạch ba góc, đậu... Trong sản xuất, đồng bào dùng công cụ cày, bừa; dùng trâu, bò làm sức kéo. Lương thực chính...

    Dân tộc Ơ đu

    6797037 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Tày Hạt Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số: gần 100 người (ước tính năm 2003) Cư trú: Tập trung ở hai bản Kim Hòa, Xốp Pột (xã Kim Đa) và một số cư trú lẻ tẻ ở các bản các xã kế cận, thuộc huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An Đặc điểm kinh tế: Người Ơ Đu sinh sống bằng nương rẫy, lúa là nguồn lương thực chính; ngô, sắn, kê là lương thực phụ. Hái lượm và săn bắn vẫn quan trọng trong...

    Dân tộc Nùng

    6797048 Giới thiệu
    Tên tự gọi: Nồng. Tên gọi khác: Xuồng, Giang, Nùng An, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Inh, Quý Rịn, Nùng Dín, Khen Lài, Nùng Phàn Slình... Nhóm ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc... Dân số: 706.000 người (ước tính năm 2003) Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm. Quan niệm phổ...

    Dân tộc Mường

    6797056 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Mol, Mual, Moi, Moi bi, Au tá, Ao tá Tên tự gọi: Mol (hoặc Mon, Moan, Mual). Nhóm ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á). Dân số: 914.600 người (ước tính năm 2003) Cư trú: Cư trú ở nhiều tỉnh phía Bắc, nhưng tập trung đông nhất ở Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa Lịch sử: Cùng nguồn gốc với người Việt cư trú lâu đời ở vùng Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ......

    Dân tộc Mnông

    6797061 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Bu-dâng, Preh, Ger, Nong, Prâng, Rlăm, Kuyênh, Chil Bu Nor, nhóm M'Nông Bu-dâng Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số: 67.300 người (ước tính năm 2003) Cư trú: Tập trung ở phía nam tỉnh Đắc Lắc, một phần tỉnh Lâm Đồng và Bình Dương Đặc điểm kinh tế: Người M'Nông làm rẫy là chính, ruộng nước chỉ có ở vùng ven hồ, đầm, sông. Những con vật nuôi thông thường ở trong các gia đình là trâu, chó, dê, lợn,...

    Dân tộc Mảng

    6797186 Tục xăm cằm của dân tộc Mảng
    Toàn cảnh lễ cúng trước khi xăm cằm. Người Mảng chỉ duy nhất có ở tỉnh Lai Châu với hơn 3.000 người, cư trú trên địa bàn 20 bản thuộc 8 xã của hai huyện Sìn Hồ và Mường Tè. Từ xa xưa, người Mảng có tục lệ xăm cằm cho nam nữ thanh niên ở độ tuổi 12-18, đánh dấu sự trưởng thành của một con người trong cộng đồng. Tục xăm cằm tượng trưng cho sức mạnh của đấng tối cao che...

    Dân tộc Mạ

    6797086 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Châu Mạ, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung, Mạ Ngắn Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số : 26.000 người (ước tính năm 2003) Cư trú: Chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng Đặc điểm kinh tế: Người Mạ làm nương rẫy, trồng lúa và cây khác như ngô, bầu, bí, thuốc lá, bông... Công cụ sản xuất thô sơ, có các loại xà-gạt, xà-bách, dao, rìu, gậy chọc lỗ. Ở vùng Đồng Nai (huyện Cát Tiên) có làm ruộng nước bằng kỹ thuật...

    Dân tộc Lự

    6797088 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Lữ, Nhuồn, Duồn Nhóm ngôn ngữ: Tày - Thái Dân số: 3.700 người. Cư trú: Tập trung ở hai huyện Phong Thổ và Sìn Hồ - tỉnh Lai Châu Đặc điểm kinh tế: Người Lự có truyền thống làm ruộng từ lâu đời. Đồng bào biết dùng cày bừa, đào mương dẫn nước, gieo mạ, cấy lúa, nhưng lại không làm cỏ, bón phân. Đồng bào còn làm thêm nương để trồng lúa, ngô, khoai, sắn, lạc, bông, chàm và...

    Dân tộc La hủ

    6797157 Tục lệ cưới xin của dân tộc La Hủ
    Mời bạn lên vùng cao phía Bắc, thăm bà con dân tộc La Hủ thuộc tỉnh Lai Châu. Tục lệ cưới xin ở đây có nét đẹp riêng. Tháng 11, 12 hàng năm - là dịp Tết của người La Hủ - cũng là mùa cưới của các đôi trai gái yêu nhau. Chàng trai tìm hiểu cô gái, đã tới độ "chín muồi", anh có thể tới nhà cô gái ngủ một vài tối. Tục lệ cho phép anh, chị có thể ngủ chung giường. ...

    Dân tộc Bru-Vân Kiều

    6796976 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Bru, Vân Kiều, Mang Cong, Trì, Khùa Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số: 62.954 người (ước tính năm 2003). Cư trú: Cư trú tập trung ở miền núi các tỉnhQuảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế. Đặc điểm kinh tế: Người Bru-Vân Kiều sống chủ yếu nhờ làm rẫy và làm ruộng. Việc hái lượm săn bắn và đánh cá là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng. Đồng bào nuôi gia súc, gia cầm, trước hết cho các...

    Dân tộc Bố y

    6796971 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Dìn, Pu Nà Tên tự gọi: Bố Y. Ngôn ngữ: Nhóm Bố Y nói ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), còn nhóm Tu Dí nói ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tạng) Dân số: 2.059 người (ước tính năm 2003). Lịch sử: Người Bố Y di cư từ Trung Quốc sang cách đây khoảng 150 năm. Cư trú: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang Đặc điểm kinh tế:...

    Dân tộc Cơ ho

    6796969 Giới thiệu
    Tên khác: Xrê, Nộp, Cơ lon, Chil, Lát, T’ring Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer. Dân số: 145.857 người (ước tính năm 2003). Ðịa bàn cư trú: Cao nguyên Di Linh. Đặc điểm kinh tế: Sống chủ yếu bằng lúa rẫy và lúa nước. Công cụ làm rẫy gồm rìu, xà gạt, xà bách, gậy chọc lỗ... Phong tục tập quán: Thờ nhiều thần linh như thần Mặt Trời, thần Núi, thần Sông... Sống định cư. Hôn nhân gia đình:...

    Dân tộc Chăm

    6797100 Đám cưới theo phong tục người Chăm
    Đám cưới theo phong tục người Chăm Xin chia sẻ với bạn đọc chùm ảnh lễ cưới của chú rể Kanafi và cô dâu Subaydáh (sinh năm 1982) để cùng hiểu thêm một phần cuộc sống của người Chăm hiện đang sinh sống tại An Giang – Việt Nam. Theo phong tục xưa, nam nữ Chăm không được quyết định trong việc cưới hỏi. Đến tuổi lập gia đình, cha mẹ nhà trai sẽ tìm hiểu và nhờ ông cả của làng ngỏ lời với nhà gái. Khi được chấp...

    Dân tộc Cơ Lao

    6796967 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Ke Lao, Cờ Lao Nhóm ngôn ngữ: Ka đai Dân số: 2.034 người (ước tính năm 2003). Cư trú: Tập trung ở huyện Đồng Văn và Hoàng Su Phì (tỉnh Hà Giang). Đặc điểm kinh tế: Ở Đồng Văn, người Cờ Lao làm nương, gieo trồng ngô ở hốc núi đá. Ở Hoàng Su Phì, đồng bào làm ruộng nước, trồng lúa là chính. Nghề thủ công phổ biến của đồng bào là đan lát và làm đồ gỗ, sản phẩm...

    Dân tộc Co

    6796966 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Cor, Col, Cua, Trầu Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số: 29.771 người (ước tính năm 2003). Cư trú: chủ yếu ở huyện Trà My (tỉnh Quảng Nam) và huyện Trà Bồng (tỉnh Quảng Ngãi). Đặc điểm kinh tế: Người Co làm rẫy là chính. Đồng bào trồng lúa, ngô, sắn và nhiều loại cây khác. Đặc biệt, cây quế Quảng là đặc sảntruyền thống ở Trà My. Quế ở vùng người Co có chất lượng và năng suất cao được các địa...

    Dân tộc Chơ ro

    6796964 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Đơ-Ro, Châu Ro, Chro, Thượng Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số : 26.455 người (ước tính năm 2003). Cư trú: chủ yếu ở Đồng Nai, một số ít ở Bình Thuận. Đặc điểm kinh tế: Trước kia người Chơ Ro sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy, cuộc sống nghèo nàn và không ổn định. Về sau đồng bào đã biến rẫy thành đất định canh, đồng thời nhiều nơi phát triển làm ruộng nước, nhờ vậy cuộc sống...

    Dân tộc Chu ru

    6796960 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Cho Ru, Kru, Thượng. Ngôn ngữ: thuộc nhóm Nam đảo. Dân số: 16.972 người (ước tính năm 2003). Ðịa bàn cư trú: Phần lớn ở Ðơn Dương (Lâm Ðồng), số ít ở Bình Thuận Kinh tế: Nghề làm ruộng lâu đời. Trồng dâu, nuôi tằm, chăn nuôi. Nghề thủ công: đan lát, rèn và làm gốm. Nghề phụ: săn bắn, hái lượm. Phong tục tập quán: Thờ cúng tổ tiên và chỉ cúng ngoài nghĩa địa. Thờ nhiều thần liên quan đến các nghi lễ nông...

    Dân tộc Cơ Tu

    6796958 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Ca Tu, Gao, Hạ, Phương, Ca-tang Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số: 56.690 người (ước tính năm 2003) Cư trú: Cư trú tại các tỉnh Quảng Nam,Đà Nẵng, Thừa Thiên - Huế Đặc điểm kinh tế: Sinh sống trên vùngTrường Sơn hiểm trở, người Cơ Tu trồng cây lương thực theo lối phát rừng làm rẫy, chọc lỗ tra hạt. Các hoạt động kinh tế khác gồm có chăn nuôi, dệt, đan lát, hái lượm, đánh cá, săn bắn và trao đổi...

    Dân tộc Dao

    6797182 Tục kéo vợ của người Dao đỏ
    Trời Tây Bắc vào xuân, thiên nhiên giao hòa, nẩy lộc cũng là lúc những chàng trai người Dao đỏ hòa vào điệp khúc xuân, điệp khúc tình yêu đang ngập tràn trên khắp núi đồi bằng một tục lệ riêng của mình: “Kéo người mình thương về… làm vợ”. Từ những ngày giáp Tết đến hết tháng Giêng, khi nhà nào thóc cũng đã đầy bồ, thịt đã treo kín bếp, người người được nghỉ ngơi chuẩn bị cho vụ mùa mới thì cũng là...

    Dân tộc Giáy

    6797122 Hát trao dâu trong đám cưới của dân tộc Giáy
    Trong đám cưới người Giáy, trao dâu là nghi thức quan trọng khi nhà gái đi đưa dâu đến nhà trai và đã đến lúc chuẩn bị ra về. Các bài hát trao dâu nói lên tình cảm của cha mẹ, anh chị em, họ hàng đối với cô dâu khi về nhà chồng. Trong đám cưới người Giáy, trao dâu là nghi thức quan trọng khi nhà gái đi đưa dâu đến nhà trai và đã đến lúc chuẩn bị ra về. Khi đó, những bài hát trao...

    Dân tộc Hoa (Hán)

    6796947 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Khách, Hán, Tàu Nhóm địa phương: Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thoòng Nhằn, Minh Hương, Hẹ... Nhóm ngôn ngữ:Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (Ngữ hệ Hán - Tạng). Dân số: 913.248 người (ước tính năm 2003) Cư trú: Sinh sống ở nhiều nơi từ Bắc đến Nam, ở cả nông thôn và thành thị Lịch sử: Người Hoa di cư đến Việt Nam vào những thời điểm khác nhau từ thế kỷ XVI, và sau này...

    Dân tộc Khmer

    6797133 Đi tu - một tập tục của người Khmer, miền Tây Nam bộ
    Ngày nay, tục đi tu vẫn còn phổ biến trong người Khmer ở miền Tây Nam bộ. Bởi vì tu không phải để thành Phật mà để thành người, chuẩn bị cho cuộc sống tốt đẹp ở ngày mai, là một cơ hội tốt để cho họ được học chữ nghĩa, đạo lý và rèn luyện đức hạnh. Người Khmer ở hầu hết các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thường sống thành từng vùng, có nơi chiếm tới 70% dân số, tập trung nhiều ở các...

    Dân tộc Ba na

    6796931 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Tơ Lô, Giơ Lâng, (Y Lăng), Rơ Ngao, (Krem), Roh, Con Kde, A La Công, Kpăng Công, Bơ Môn Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số: 190.259 người (ước tính năm 2003). Cư trú: Chủ yếu ở Kon Tum, miền Tây Bình Định và Phú Yên Hôn nhân gia đình: Người Ba Na cho phép trai gái tự do tìm hiểu và lựa chọn bạn đời, việc cưới xin đều theo nếp cổ truyền. Vợ chồng trẻ ở luân phiên mỗi bên...

    Dân tộc Cống

    6796928 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Xắm Khống, Mông Nhé, Xá Xeng, Phuy a Nhóm ngôn ngữ: Tạng - Miến Dân số: 1.859 người (ước tính năm 2003). Cư trú: huyện Mường Tè - tỉnh Lai Châu. Hiện nay, phần lớn người Cống cư trú ven sông Đà. Đặc điểm kinh tế: Người Cống sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, canh tác theo lối phát rừng, đốt, chọc lỗ tra hạt giống. Gần đây, đồng bào đã làm nương bằng cuốc và sử dụng trâu, bò làm sức kéo. Nhiều thức...

    Dân tộc Brâu

    6796916 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Brao Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số: 350 người (ước tính năm 2003). Cư trú: Tập trung ở làng Đăk Mế, xã Bờ Y, uyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum Đặc điểm kinh tế: người Brâu có truyền thống du canh du cư. Họ chủ yếu đốt rừng làm rẫy để trồng các loại lúa, ngô, sắn, với công cụ sản xuất thô sơ như: rìu, rựa và chiếc gậy chọc lỗ tra hạt; năng suất cây trồng thấp. Hôn nhân gia đình:...

    Dân tộc Ngái

    6796906 Giới thiệu
    Tên tự gọi: Sán Ngải. Tên gọi khác: Ngái Hắc Cá, Lầu Mần, Hẹ, Sín, Đàn, Lê. Tên tự gọi chung là Sán Ngái (người miền núi), Xuyến. Cư trú: Cư trú ở Quảng Ninh, Lạng Sơn,Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, TP.Hồ Chí Minh Dân số: 1.154 người (ước tính năm 2003) Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tạng). Lịch sử: Người Ngái có nhiều gốc khác nhau và thiên di tới Việt Nam làm nhiều đợt. Quá trình...

    Dân tộc Giẻ - Triêng

    Giới thiệu
    Tên gọi khác: Gié, Ta Reh, Giảng Rây, Pin, Triêng, Treng, Ta Liêng, Ve, La-Ve, Bnoong, Ca Tang Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số: 31.343 người (ước tính năm 2003) Cư trú: tỉnh Kon Tum và miền núi tỉnh Quảng Nam -Đà Nẵng Đặc điểm kinh tế: Người Giẻ Triêng sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy, ngoài ra còn săn bắn, đánh cá, hái lượm các loại rau rừng, hoa quả, nấm... làm thức ăn hàng ngày. Đồng bào chăn nuôi trâu bò, lợn; gà chủ yếu dùng...

    Dân tộc Khơ mú

    6797135 Lễ "Pa Sưm" của người Khơ Mú
    Khơ Mú ở Nghệ An thường làm lễ Pa Sưm trước lúc tra hạt trên nương rẫy. Đây là lễ cầu khấn trời đất, tổ tiên và các thần linh cho nương rẫy được bội thu. Chủ lễ là người phụ nữ trong nhà. Bà đóng vai Mẹ lúa, tượng trưng cho sự sinh sôi, nảy nở. Trước tiên, Mẹ lúa dọn một khoảnh đất khoảng 2m2, đủ để đặt mâm làm lễ cúng ở một chỗ tương đối bằng phẳng trên rẫy, gọi là Mắt...

    Dân tộc H'mông

    6797210 TỤC CƯỚP VỢ CỦA NGƯỜI H'MÔNG
    Tháng giêng, khi những rừng mơ nở trắng, báo hiệu mùa cưới lung linh sắc màu thổ cẩm rộn lên khắp các bản làng Tây Bắc và Ðông Bắc cũng rộn lên. Người Mông có tục kéo con gái về làm vợ (cướp vợ). Khi người con trai quen biết một người con gái và muốn cô gái đó làm vợ họ sẽ đi kéo cô gái về nhà. Để kéo được cô gái về nhà, người con trai phải chiêu đãi, mời rượu một số người bạn cùng lứa...

    Dân tộc Tày

    6796674 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí Nhóm ngôn ngữ: Tày - Thái Dân số: 1.200.000 người (ước tính năm 2003) Cư trú: Sống ven các thung lũng, triền núi thấp ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh và một số vùng thuộc Hà Bắc. Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Đặc điểm kinh tế: Người Tày có...

    Dân tộc Lào

    Giới thiệu
    Tên gọi khác: Lào Bốc, Lào Nọi Nhóm ngôn ngữ: Tày - Thái Dân số: 9.600 người Cư trú: Tập trung tại các huyện Điện Biên, Phong Thổ (Lai Châu), Sông Mã (Sơn La), Than Uyên (Lào Cai) Đặc điểm kinh tế: Phần đông người Lào làm ruộng nước là chính, với kỹ thuật canh tác dùng cày, bừa và làm thủy lợi. Nghề phụ gia đình của người Lào như: dệt, rèn, gốm, làm đồ bạc khá phát triển. Hôn nhân gia đình: Người Lào thường mang các họ...

    Dân tộc Phù lá

    6796662 Giới thiệu
    Tên tự gọi: Lao Va Xơ, Bồ Khô Pạ, Phù Lá. Tên gọi khác: Xá Phó, Bồ Khô Pạ, Mú Dí Pạ, Phổ, Va Xơ Lao, Pu Dang , Cần Thin. Nhóm địa phương: Phù Lá Lão, Bồ Khô Pạ, Phù Lá Ðen, Phù Lá Hán. Nhóm ngôn ngữ: Tạng Miến (ngữ hệ Hán - Tạng), gần với Miến hơn. Dân số: 6.500 người (ước tính năm 2003) Đặc điểm kinh tế: Đời sống kinh tế của dân tộc Phù Lá dựa vào việc làm...

    Dân tộc Xê đăng

    6796661 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Xơ Đeng, Cà Dong, Tơ-dra, Hđang, Mơ-nâm, Hà Lăng, Ka Râng, Bri La Teng, Con Lan Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số: 97.000 người Cư trú: Cư trú tập trung ở tỉnhKon Tum, một số ít ở miền núi của tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng Đặc điểm kinh tế: Người Xơ Đăng làm rẫy là chính. Nhóm Mơ-nâm làm ruộng nước nhưng không cày bừa mà lại dùng sức trâu, sức người để giẫm nát đất. Đồng...

    Dân tộc Hà Nhì

    6796657 Giới thiệu
    Tên tự gọi: Hà Nhi gia. Tên gọi khác: U Ní, Xá U Ní,Hà Nhì, Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì đen. Nhóm ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến (ngữ hệ Hán - Tạng), gần với Miến hơn. Dân số: 19.954 người (ước tính năm 2003) Cư trú: ở các tỉnh Lai Châu và Lào Cai Lịch sử: Cư dân Hà Nhì đã từng sinh sống lâu đời ở nam Trung Quốc và Việt Nam. Từ thế kỷ thứ 8, thư tịch cổ đã...

    Dân tộc Việt

    6797141 Dân ca Xoan, Ghẹo - Nghệ thuật độc đáo ở vùng đấtTổ
    Dân ca Xoan, Ghẹo là một loại hình nghệ thuật độc đáo ở vùng đất Tổ, gắn liền với lời truyền tụng từ xa xưa rằng: Vợ Vua Hùng mang thai, tới ngày sinh nở, đau bụng mãi mà không đẻ được. Một hầu gái tâu rằng: Nên đón nàng Quế Hoa xinh đẹp, múa giỏi, hát hay, về múa hát, có thể đỡ đau và sinh nở được. Vợ Vua nghe lời, cho mời Quế Hoa đến. Giọng hát trong vắt như chim hót, suối ngân, tay...

    Dân tộc Ê đê

    Giới thiệu
    Tên gọi khác: Anăk Ê Đê, Ra Đê, Ê Đê - Êgar, Đê Nhóm ngôn ngữ: Malayô - Pôlinêxia Dân số: 306.333 người (ước tính năm 2003). Cư trú: Tập trung ở tỉnh Đắc Lắc, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây hai tỉnh Khánh Hòa,Phú Yên. Đặc điểm kinh tế: Người Êđê làm rẫy là chính. Ngoài trồng trọt, đồng bào còn chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh cá, đan lát, dệt. Hôn nhân gia đình: Người Ê Đê theo chế...

    Dân tộc Tà ôi

    6796648 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Tôi Ôi, Pa Cô, Ba Hi, Pa Hi Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số: 26.000 người (ước tính năm 2003) Cư trú: Sống tấp trung ở huyện A Lưới (Thừa Thiên - Huế) và Hương Hóa (Quảng Trị) Đặc điểm kinh tế: Người Tà Ôi trước đây làm rẫy là chính, gần đây ở một số nơi đồng bào làm ruộng nước, có vườn cây ăn quả, đào ao thả cá. Tổ chức cộng đồng: Làng người Tà Ôi theo truyền thống...

    Dân tộc Kháng

    6796644 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Háng, Xá, Brển. Tên tự gọi: Mơ Kháng. Nhóm địa phương: Kháng Dẩng, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Kháng Súa, Ma Háng, Bư Háng, Ma Háng Bẻng, Bư Háng Cọi... Dân số: 3.921 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Họ nói thạo tiếng Thái. Cư trú: Sơn La và Lai Châu Lịch sử Người Kháng là một trong số các dân tộc cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc nước ta. Đặc điểm...

    Dân tộc Chứt

    Giới thiệu
    Tên gọi khác: Rục, Sách, A rem, Mày, Mã Liềng, Tu Vang, Pa Leng, Xe Lang, Tơ Hung, Cha Cú, Tắc Cực, U Mo, Xá lá vàng Nhóm ngôn ngữ: Việt - Mường Dân số: 3.787 người (ước tính năm 2003). Cư trú: Phần đông cư trú ở huyện Minh Hóa và Tuyên Hóa (Quảng Bình). Đặc điểm kinh tế: Nguồn sống chính của nhóm Sách là làm ruộng, còn nhóm Rục và A rem là làm rẫy. Ngoài ra người Chứt còn hái lượm,...

    Dân tộc La Chí

    6796636 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Thổ đen, Mán, Xá… Tên tự gọi: Cù tê. Dân số: 7.863 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Ðai (ngữ hệ Thái – Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng La Ha, Cơ Lao, Pu Péo Cư trú: Cư trú chủ yếu ở huyện Xín Mần (Hà Giang), huyện Mường Khương và Bắc Hà (Lào Cai) Lịch sử: Người La Chí có lịch sử cư trú lâu đời ở Hà Giang, Lào Cai. Đặc điểm kinh tế: Ruộng bậc thang của người La Chí. ...

    Dân tộc Lô lô

    6796631 Giới thiệu
    Tên gọi khác: Mùn Di, Di, Màn Di, La La, Qua La, Ô Man, Lu Lộc Màn. Có hai nhóm: Lô Lô hoa và Lô Lô đen Tên tự gọi: Lô Lô. .Dân số: 3.134 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến (ngữ hệ Hán-Tạng), gần với Miến hơn. Lịch sử: Họ là cư dân có mặt rất sớm ở vùng cực bắc của Hà Giang. Cư trú: Sống chủ yếu ở các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), Bảo Lạc (Cao Bằng), Mường Khương (Lào...

    Dân tộc Gia rai

    Giới thiệu
    Tên gọi khác: Giơ Ray, Chơ Ray, Tơ Buăn, Hơbau, Hdrung, Chor Nhóm ngôn ngữ: Malayô - Pôlinêxia Dân số: 350.766 người (ước tính năm 2003). Cư trú: Cư trú tập trung ở tỉnh Gia Lai, một bộ phận ở tỉnh Kon Tum và phía Bắc tỉnh Đắk Lắk. Đặc điểm kinh tế: Người Gia Rai sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt nương rẫy, lúa tẻ là cây lương thực chính. Công cụ canh tác của người Gia Rai giản đơn, chủ yếu là con dao chặt...

    Dân tộc H'rê

    Giới thiệu
    Tên gọi khác: Chăm Rê, Chom, Lũy, Rê, Chòm… Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer Dân số: 120.251 người (ước tính năm 2003) Cư trú: cư trú chủ yếu ở miền tây tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định Đặc điểm kinh tế: Người Hrê làm lúa nước từ lâu đời, kỹ thuật canh tác lúa nước của đồng bào tương tự như vùng đồng bằng Nam Trung bộ. Đồng bào chăn nuôi trước hết nhằm phục vụ các lễ cúng bái, riêng trâu còn được dùng để kéo cày, bừa....

    Dân tộc Thái

    6797167 Hó Moọc - món báo hiếu của người Thái Nghệ An
    Trong những ngày lễ Tết quan trọng, đặc biệt là ngày rằm tháng 7, ngày vu lan báo hiếu, mâm cỗ cúng của đồng bào Thái miền Tây nghệ An không thể thiếu món Hó Mooc, món bánh được làm từ gạo và những cây cỏ, gia vị tự nhiên quanh nhà. Đồng bào Thái quy định, con cháu chỉ tổ chức Lễ báo hiếu sau khi đã có gia đình. Thường lễ này được tổ chức khi trong nhà có cha, mẹ của người chồng hoặc vợ gặp vấn...

    Văn hóa tập quán xã hội

    KHÁI QUÁT ĐỜI SỐNG KINH TẾ-XÃ HỘI THEO NHÓM NGÔN NGỮ
    Dân tộc và ngôn ngữ dân tộc là hai mặt gắn liền với nhau của các tiến trình tộc người. Trong tiến trình đó, ngôn ngữ vừa là cái đặc trưng của dân tộc, vừa là cái phản ánh, bảo tồn, truyền tải các giá trị của nền văn hoá dân tộc, là phương tiện hợp nhất, đoàn kết dân tộc, củng cố và phát triển xã hội tộc người. Theo ngôn ngữ văn hoá, các dân tộc Việt Nam được xếp vào 8 nhóm ngôn ngữ tộc người...

    Luyện thiết kế Web


    I LOVE YOU

    Thiết kế
    Chủ đề web
    Email của bạn
    *Nội dung*
    Đường dẫn Tựa đề
    Thêm vào



    Đây là đoạn mã nguồn trang web của bạn. Hãy tìm một Domain+Host để đưa nó lên mạng



    BẠN CHỈ CẦN COPPY MỘT ĐOẠN CODE DÁN VÀO VÀ ẤN VÀO LÀM XONG VÀ ẤN VÀO XEM THỬ LÀ CÓ KẾT QUẢ NGAY